QUY TRÌNH THU MUA TRONG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG
BƯỚC 1: XÁC ĐỊNH NHU CẦU CỦA CÔNG TY 2
BƯỚC 2: XÁC ĐỊNH VÀ LỰA CHỌN NGƯỜI CUNG ỨNG 3
BƯỚC 3: ĐẶT HÀNG 3
BƯỚC 4: NHẬN HÀNG VÀ THANH TOÁN. 5
BƯỚC 5: KIỂM TRA VÀ LƯU TRỮ 5
QUY TRÌNH THU MUA VÀ CÁC BÊN LIÊN QUAN 5
TÓM TẮT BÀI HỌC VÀ BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 6
TÌNH HUỐNG 1: Các vấn đề về thu mua Cocoa của công ty Cadbury 6
TÌNH HUỐNG 2: Quy trình thu mua tóm tắt của công ty Harajuku và Pure-Electric. 8
(Procure To Pay Process Of Pure-Electric And Harajuku Melbourne) 8
TÌNH HUỐNG 3: Quy trình thu mua tóm tắt của 1 công ty Pizza và 1 công ty Kebab. 8

Chúng ta sẽ bắt đầu phân tích bài học hôm nay với chuỗi cung ứng trong một tổ chức được ví như cơ thể của chúng ta. Nếu cơ thể là một tổ chức, thì tổ chức phải quan tâm đến các chuỗi cung ứng trong cơ thể. Các chuỗi cung ứng đó tương đương với các chuỗi hoạt động của xương, cơ, mạch máu, vvv… được vận hành hiệu quả bởi chất dinh dưỡng nạp vào cơ thể từ thức ăn. Như vậy, tình huống đặt vấn đề là: Tưởng tượng cơ thể của chúng ta là một tổ chức, đầu vào của tổ chức hay bộ máy đó sẽ là thực phẩm chúng ta ăn mỗi ngày. Để cơ thể được khỏe mạnh hay tổ chức được vận hành tốt nhất, chúng ta cần người cung cấp và cần những nhà cung cấp thực phẩm đáng tin cậy. Như vậy chúng ta đang lấy ví dụ thức ăn như là đầu vào của chuỗi cung ứng và bây giờ chúng ta sẽ phân tích việc quản trị việc thu mua thức ăn đó như thế nào cho chuỗi cung ứng là cơ thể của chúng ta hoạt động hiệu quả.Hay cùng nhau suy nghĩ: Để có một cơ thể khoẻ mạnh và xinh đẹp như mỗi người mong muốn: cao, to, hay da mịn màng không có mụn thì chúng ta đã hoặc sẽ có những quyết định tiêu dùng gì, tiêu dùng như thế nào, nó liên quan đến các nhà cung ứng nào? Nói cách khác là chúng ăn uống cái gì, ăn uống ra sao? Và mua hàng của ai, ở đâu?

Đầu tiên, cơ thể của chúng ta rất khác nhau với những nhu cầu hoàn toàn không giống nhau. Có người thích cao nên uống nhiều sữa, có người muốn giảm cân nên ăn chay, vận động viên chạy bộ có chế độ ăn uống rất chặt chẽ từ đơn vị tài trợ trong khi một doanh nhân bận rộn chả có thời gian để chuẩn bị những bữa ăn thịnh soạn sẽ thường xuyên đi ăn quán.
Điều này cũng giống như các ngành nghề khác nhau, hay các tổ chức khác nhau hoạt động trong cùng một ngành sẽ có nhu cầu hoàn toàn khác nhau về đầu vào. Ví dụ chuỗi cung ứng bàn ghế thì cần gỗ, đinh, có khi cùng bán bàn ghế nhưng công ty này dung gỗ xoan đào, công ty kia lại dung gỗ sồi, gỗ mun. Trong khi chuỗi cung ứng nước tinh khiết thì cần nước hay chai nhựa.
Tuy nhiên lý thuyết là vậy, thực tế nhu cầu và hành động khó có thể nhất quán, có người muốn đẹp nhưng lại thích uống coke ăn đồ ăn nhanh, có người lại thích rau củ, người này thích thịt cá, người kia suốt ngày chỉ nạp rượu chè. Cũng giống như có nhiều công ty muốn bán hàng chất lượng cao nhưng ban quản trị lại chọn mua nguyên vật liệu rẻ tiền vì không đủ nguồn lực tài chính, công ty này muốn mua hàng Nhật, công ty kia muốn mua hàng Trung Quốc.

Nói chung lại là chuỗi cung ứng của mỗi công ty sẽ khác nhau, tùy vào nhu cầu thị trường, định hướng công ty, mỗi nhà quản trị chuỗi cung ứng sẽ quản lý thu mua một cách phù hợp nhất. Ở đây, chúng ta sẽ phân tích hoạt động thu mua nhằm phục vụ một chuỗi cung ứng hiệu quả bắt đầu với bước 1: Xác định nhu cầu của công ty
BƯỚC 1: XÁC ĐỊNH NHU CẦU CỦA CÔNG TY
Ở bước 1 này, nhà quản trị cần xem xét nhu cầu của công ty về đầu vào trực tiếp hay gián tiếp, trực tiếp là đầu vào được dùng trực tiếp để sản xuất sản phẩm còn gián tiếp là nguyên vật liệu (NVL) dùng để hỗ trợ quá trình sản xuất ví dụ máy tính, bàn ghế không tham gia sản xuất ra chai nước nhưng hỗ trợ nhân viên. Nhu cầu ở đây bao gồm công ty cần đầu vào là cái gì? Số lượng bao nhiêu? Chất lượng như thế nào? Thời gian cần cung ứng khi nào? Chúng ta phải đặt hàng mới hay tái đặt hàng? Công ty có nhu cầu gì đặc biệt cho đơn hàng hay không? Nguồn lực và định hướng công ty ra sao cũng cần được xác định để xem xét nhu cầu thu mua có phù hợp với nguồn lực và định hướng của công ty hay không? Ví dụ trong chuỗi cung ứng của xe ô tô hay xe máy. Bộ phận thu mua sau khi xác định thông tin về việc bánh xe đang sắp hết hàng phải lên kế hoạch về loại bánh xe cần mua, bao nhiêu bánh xe và khi nào chúng cần được giao. Cũng có thể họ phải xác định cả ngân khoản cho việc chi tiêu này.

Quay lại chuỗi cung ứng thức ăn cho cơ thể, sau khi biết được nhu cầu là gì, chúng ta thường sẽ lựa chọn việc tự đi chợ nấu ăn hay thuê người giúp việc đi chợ nấu ăn. Lựa chọn 1: Nếu để người giúp việc làm thì hoạt động đó chính là outsourcing. Liên quan đến outsource thì ta phải quan tâm đến vấn đề gì? Có phải để người giúp việc tự lựa chọn và đưa ra quyết định về nguồn thức ăn là quyết định đúng? Thực ra nếu người giúp việc có thể đảm nhận hết các quyết định như vậy thì chúng ta không cần tốn thời gian cho việc lo ăn gì uống gì, lại còn tiết kiệm chi phí. Nhưng mà có mấy ai muốn như vậy không và thử nghĩ vì sao? Thực ra điều đó chỉ tốt khi người giúp việc có kinh nghiệm làm việc với chúng ta lâu năm và đặc biệt thực sự hiểu chúng ta muốn ăn gì và muốn ăn lúc nào hay lúc nào để các em ăn ngoài với bạn, khó đúng không? Trường hợp này rất khó đạt được. Liên hệ với SCM, cái này sẽ giống như công ty một khi oursource, cần phải lựa chọn người, đơn vị uy tín, có năng lực, hiểu công ty và công ty truyền tải thông điệp, yêu cầu, mong muốn của mình chi tiết, rõ ràng. Ví dụ công ty Nestle outsource việc thu mua cho các nhà trung gian cà phê ở Gia Lai chứ không thu mua trực tiếp từ nông dân trồng cà phê. Để tìm được trung gian phù hợp, công ty Nestle đã phải tìm kiếm thông tin về trung gian cà phê ở Việt Nam, thông qua các quan hệ liên hệ họ và cả quảng cáo tìm nhà trung gian, lựa chọn ra danh sách các nhà trung gian khác nhau để xem xét, đánh giá, chọn lọc ra danh sách các nhà trung gian tiêm năng. Và những nhà trung gian này luôn có mối quan hệ mật thiết với công ty cũng như được công ty chăm sóc rất tốt. Lựa chọn 2: chúng ta tự đi chợ. Cái này đồng nghĩa với việc công ty đang tự quản lý việc thu mua. Và hôm nay chúng ta tính mua đồ ăn ở đâu? Vì sao chúng ta đi chợ chứ không mua ở siêu thị, vì sao mua bà ba mà không mua bà bảy. Đấy chính là chúng ta đang ngầm lựa chọn nguồn/người cung ứng, cũng chính là bước 2 trong quy trình thu mua.

BƯỚC 2: XÁC ĐỊNH VÀ LỰA CHỌN NGƯỜI CUNG ỨNG
Trong bước này, nhà quản trị thu mua thường lên danh sách nhà cung ứng phù hợp sau đó chọn ra một hoặc một vài người, họ có thể tìm danh sách ban đầu thông qua nhiều nguồn khác nhau: báo chí, internet, đại diện bán hàng hay dựa vào các tiêu chí khác nhau: chất lượng, giá cả hay cả quan hệ trong buôn bán. Như khi chúng ta đi chợ, có người thích bà ba vì bà đó bán thơm bảy ngàn một trái rẻ hơn hai ngàn so với các quán khác nhưng có người lại thích bà bốn vì thơm bà bốn trái to hơn, ngọt hơn. Có nhiều người lại mua bà năm vì bà năm là bà con hàng xóm. Quyết định sẽ phụ thuộc vào sở thích, túi tiền và các mối quan hệ của mỗi người. Tương tự, có nhiều công ty, việc lựa chọn nhà cung ứng sẽ dựa vào tiêu chí nhà cung ứng đó có sản phẩm tốt nhất hoặc nổi tiếng thị trường. Hoặc các công ty cũng có thể lựa chọn thuê ngoài, outsourcing thay vì tự quản lý thu mua. Và cho dù lựa chọn hình thức nào, thì sao khi có được người cung ứng phù hợp, người quản trị thu mua phải thiết lập, duy trì và phát triển mối quan hệ đó lâu dài, bền vững. Vì quá trình lựa chọn không phải dễ dàng, rất tốn thời gian và chi phí.
Lấy ví dụ về việc mua bánh xe của công ty Toyota, khác với Nestle, sau khi xác định là công ty cần đặt hàng bánh xe cho quá trình lắp đặt ở nhà máy mới ở Đồng Nai. Đầu tiên, công ty sẽ lên danh sách các công ty cung cấp lốp xe khác nhau như lốp xe Nhật bridgestone ở VN, lốp xe Việt Nam DRC hay lốp xe trung quốc Alibaba. Sau đó, họ sẽ dựa vào các chỉ tiêu về giá cá, chất lượng và số lượng có thể cung ứng, danh tiếng, tốc độ phục vụ, độ tin cậy và dịch vụ khách hàng để chọn ra người phù hợp nhất. Công ty tức nhiên sẽ đưa ra các điều kiện và giá cả cho cả 2 bên, đặc biệt khi nhu cầu của công ty rất khác nhau giữa cần hàng có sẵn hay các vật liệu chuyên dụng. Và một khi chọn được nhà cung ứng thích hợp, công ty sẽ gắn bó lâu dài với nhà cung ứng đó để thiết lập giá cả và các điều khoản ưa đãi.

Bản chất đi tìm người trồng cà phê và người bán lốp xe rất khác nhau nên Nestle và Toyota đã định hướng outsourcing và self managing khác nhau. Hoàn thành xong bước 2, lựa chọn và xác định người cung ứng, quy trình thu mua sẽ liên quan đến
BƯỚC 3: ĐẶT HÀNG
Đặt hàng gồm 3 công việc chính: Trình đơn yêu cầu mua hàng (Purchase Requisition), đơn mua hàng hay còn gọi là đơn đặt hàng (PO Purchase order) và nhận hóa đơn và đơn đặt hàng từ nhà cung ứng. Việc mua đồ ăn cũng giống như quyết định thu mua của một số công ty nhỏ lẻ trong thực tế, bước này có thể được đơn giản hóa. Tuy nhiên, đối với các công ty chuyên nghiệp, đây là 1 trong những bước rất quan trọng.

Trước khi làm đơn đặt hàng, bộ phận thu mua cần có phê duyệt của bộ phận tài chính và quản trị của công ty. Lúc đó đơn yêu cầu mua hàng PR sẽ được soạn thảo và gửi nó tới bộ phận phê duyệt của công ty. Mặc dù mẫu đơn yêu cầu mua hàng thay đổi tùy thuộc vào công ty khác nhau, các thông tin căn bản trong đơn yêu cầu mua hàng bao gồm: Vị trí hoặc bộ phận thu mua (là công ty Toyota CN VN), số lượng và mô tả về nguồn cung cấp được yêu cầu (30 lốp xe mùa đông, kích thước 215), tên của nhà cung cấp cung cấp hàng hoá (công ty Bridgestone VN) và giá ($1,500). Các thông tin này sau khi được bộ phận thu mua chia sẻ trực tiếp với nhà cung cấp lốp xe là công ty Bridgestone VN, nhà cung cấp sẽ làm đơn yêu cầu mua hàng và trình trực tiếp với bộ phận thu mua. Bộ phận thu mua phê duyệt, từ chối hoặc thảo luận thêm để có được một yêu cầu mua hàng cuối cùng trình lên bộ phận phê duyệt của công ty Toyota. Như vậy đơn yêu cầu mua hàng được chuyển từ nhà cung ứng sang bộ phận thu mua rồi từ bộ phận thu mua sang bộ phận phê duyệt chi tiêu như ban quản trị hoặc quản lý tài chính.

Một khi đơn yêu cầu mua hàng PR đã được chấp thuận, bộ phận kiểm soát tài chính sẽ đưa ra đơn đặt hàng PO cho nhà cung cấp. Tùy thuộc vào mỗi công ty, đơn đặt hàng có thể được bộ phận tài chính gửi trực tiếp cho nhà cung ứng hoặc gửi lại cho bộ phận thu mua để bộ phận thu mua giao cho nhà cung ứng. Đơn đặt hàng được sử dụng để mua vật liệu giữa người mua và người bán. Nó xác định cụ thể giá, đặc điểm kỹ thuật, điều khoản và điều kiện của sản phẩm hoặc dịch vụ như thời gian thanh toán, thời gian giao hàng hay hoàn thành công việc và bất kỳ nghĩa vụ bổ sung. Đơn đặt hàng được sử dụng như một hợp đồng chính thức trong thu mua đầu vào. Và nếu không có hợp đồng liên quan, đơn đặt hàng được xem là văn bản pháp lý ràng buộc. Đơn đặt hàng thường được tạo ra bằng cách sử dụng các hệ thống mua bán điện tử như PurchaseControl, cho phép các doanh nghiệp theo dõi các PO và trình PO cho phòng kế toán online. Còn việc ciệc chuyển giao đơn đặt hàng cho người cung ứng thường được thực hiện qua email, thư, fax, cá nhân hoặc các phương tiện điện tử khác. Đôi khi phương pháp phân phối cụ thể được chỉ định trong các tài liệu mua hàng. Sau đó người nhận tức là bên cung ứng sẽ xác nhận việc nhận đơn đặt hàng. Mỗi bên giữ một bản sao trong hồ sơ. Một lần nữa, thông tin có thể thay đổi, nhưng đơn đặt hàng của nhà cung cấp lốp xe thường sẽ bao gồm tên của công ty mua hàng hoá hoặc dịch vụ (BridgeStone VN), mô tả và số lượng hàng hóa / dịch vụ (30 lốp xe mùa đông, kích thước 215), giá $ 1,500), địa chỉ gửi thư (Khu Công Nghiệp Đình Vũ, Hải Phòng, Việt Nam), thông tin thanh toán và các điều khoản (phải thanh toán trong 45 ngày), địa chỉ hoá đơn (giống như địa chỉ gửi thư) và số đơn đặt hàng (345).

Cần lưu ý ở đây là đơn mua hàng PO (Purchase order) khác với yêu cầu mua hàng PR (Purchase requisition). Với PR bạn không thực sự yêu cầu bất cứ thứ gì từ nhà cung cấp, bạn chỉ gửi cho bộ phận khác trong cùng công ty để thuyết phục phê duyệt tài chính. Còn PO này là đơn mua hàng gửi từ công ty mình đến công ty cung ứng. Bên cạnh đó, PR là do nhà cung ứng soạn thảo dựa trên thông tin chia sẻ của bộ phận thu mua còn PO là do bộ phận kế toán lập ra.

Cuối cùng trong bước ba này là việc nhận hóa đơn và đơn đặt hàng từ nhà cung ứng.
Tức là trong giai đoạn này, sau khi nhà cung ứng nhận được đơn đặt hàng PO từ phòng kế toán, họ sẽ gửi lại bộ phận thu mua hóa đơn hoặc đơn đặt hàng mô tả chính xác đơn hàng giữa hai bên (2 cái này có thể đến trước đến sau khác thời điểm). Hóa đơn sẽ xác nhận việc bán và xác nhận chính xác khi thanh toán đến hạn. Khi bộ phận thu mua nhận được đơn đặt hàng, họ thường sẽ có một khoảng thời gian giới hạn để thông báo cho nhà cung cấp về bất kỳ vấn đề nào với hàng hoá hoặc dịch vụ. Nếu không việc mua bán sẽ được tiến hành. Tại thời điểm này, ba tài liệu quan trọng – đơn đặt hàng, biên lai đơn hàng (có kèm theo đơn đặt hàng) và hóa đơn của nhà cung cấp – sẽ được căn chỉnh và đối chiếu, giúp tìm ra bất kỳ sự khác biệt nào trong việc tính phí. Việc đồng ý với bộ tài liệu này xác nhận thỏa thuận giữa hai bên người mua và người bán. Điều đáng chú ý ở đây là hóa đơn và đơn đặt hàng được giao ngược lại từ nhà cung ứng đến bộ phận thu mua trong khâu này, chứ không giống như quy trình của đơn đặt hàng ở trên.
BƯỚC 4: NHẬN HÀNG VÀ THANH TOÁN.
Sau bước ba vừa nêu trên, người cung ứng sẽ giao hàng. Công ty có quyền nhận hàng hoặc không nhận hàng nếu trong quá trình kiểm định, hàng hóa có bất cứ sai xót nào khác với đơn đặt hàng hoặc hợp đồng. Một khi chấp nhận hàng hóa, bộ phận thu mua sẽ phải thanh toán cho người cung ứng theo đúng thỏa thuận.
Hình thức thanh toán là một trong những điều khoản quan trọng của hợp đồng giữa hai bến, nó có thể có thể không đề cập đến trong đơn đặt hàng. Các hình thức bao gồm trả trước, trả sau, trả tiền mặt, séc, chuyển khoản, tín dụng hoặc các hình thức khác. Trong các phương thức nêu trên, tín dụng có độ tin cậy rất cao nên đồng thời tính phực tạp cũng cao nhất. Ví dụ trong thực tế, khi chúng ta đi chợ, đó đơn giản chỉ là trả sau khi nhận hàng bằng tiền mặt. Nhưng đối với quy mô công ty, các hình thức khác được khuyến khích sử dụng hơn do tính chặt chẽ và minh bạch. Ví dụ công ty Harajuku ở Úc, đối với mặt hàng kem hay bột cà phê, công ty luôn trả ngay sau khi nhận hàng bằng tiền mặt, nhưng đối với bột làm bánh nhập khẩu từ Nhật, công ty phải trả trước với hình thức chuyển khoản ngân hàng. Một số NVL khác được trả trước 30% chuyển khoản và trả khoản còn lại sau khi nhận hàng.
BƯỚC 5: KIỂM TRA VÀ LƯU TRỮ
Giai đoạn cuối cùng: Kiểm tra và lưu trữ trong chu kỳ mua sắm rất quan trọng đối với việc lưu trữ và kiểm tra sổ sách. Kiểm toán viên sẽ yêu cầu tài liệu chi tiết từ yêu cầu mua hàng đến hoá đơn cho tất cả các lần mua hàng và lưu trữ chúng cẩn thận. Bởi vì các giấy tờ này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động thuế và bảo hành mà còn liên quan đến các hoạt động mua hàng trong tương lai.
QUY TRÌNH THU MUA VÀ CÁC BÊN LIÊN QUAN
Quy trình thu mua là bước đầu tiên và đóng vai trò hết sức quan trọng trong tổng thể chuỗi cung ứng. Thứ nhất, QTTM quản lý các mối quan hệ nhạy cảm với các bên hữu quan stakeholders khác nhau. Trong đó, liên quan đến sự không chắc chắn trong việc mua hàng. Chi tiết hơn tức là giá cả NVL lên xuống thất thường, nguồn tài nguyên thì có hạn nên tính khả dụng cũng không chắc chắn. Bên cạnh đó, việc thu mua NVL thường liên quan đến các vấn đề tài nguyên, môi trường hay nhân công là những vấn đề thu hút báo chí và sự quan tâm của người tiêu dùng. Quan trọng nhất, không có một tổ chức hay đơn vị nào muốn chi phí đầu vào của công ty lớn hơn lợi nhuận, nên việc quản lý thu mua đầu vào sẽ quyết định lợi nhuận của công ty.
Bên cạnh đó, công tác quản lý thu mua không chỉ kết nối bộ phận thu mua với các bộ phận khác, giúp bôi trơn bộ máy công ty bằng việc đám bảo nguồn đầu vào liên tục, đầy đủ, giúp công ty hoạt động một cách hiệu quả nhất và không gián đoạn cũng như đảm bảo tính kết nối giữa bộ phận thu mua và định hướng phát triển và mục tiêu hoạt động của công ty. Việc phát triển và lên kế hoạch sử dụng đầu vào đáng tin cậy với chất lượng cao còn đảm bảo giảm thiếu chi phí và sử dụng nguồn lực công ty một cách tốt nhất.
TÓM TẮT BÀI HỌC VÀ BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
Như vậy, chúng ta vừa khái quát bước đi đầu tiên của quản trị chuỗi cung ứng: quy trình thu mua – được định nghĩa là hành vi thu và mua nguyên vật liệu là hàng hoá hay dịch vụ để phục vụ cho việc sản xuất và các bước tiếp theo trong chuỗi cung ứng. Quy trình này bao gồm 5 giai đoạn căn bản: xác định nhu cầu, lựa chọn nhà cung ứng, đặt hàng, nhận hàng và thanh toán và cuối cùng là kiểm tra và lưu trữ. Tùy vào tính chất khác nhau của từng chuỗi cung ứng, quy trình thua mua có thể được đơn giản hóa hoặc chi tiết hóa thành 6 hoặc 7 bước. Cuối cùng, hãy cùng thảo luận và phân tích ba tình huống liên quan đến QTTM sau đây:
TÌNH HUỐNG 1: Các vấn đề về thu mua Cocoa của công ty Cadbury
– Locations: Ghana, Indonesia, Malaysia
From suppliers to processors
– Cocoa pods are cut down from the trees and the pulp and beans are removed from the outside husk. The beans are then fermented (Heap fermentation method). The cocoa beans are piled up on a layer of banana leaves, with more leaves placed on top to cover them. They are then left for five or six days to ferment and the pulp around the beans becomes liquid drains away. Next, the wet beans are dried in the sun and turned frequently so that they dry evenly (this is crucial because if any beans are still wet, they’ll go mouldy when they are stored). Once the beans are dry, farmers taken to buying stations where the beans are weighed and packed into sacks. Then the official Ghana Cocoa Board will grade the cocoa according to quality, before the beans are taken to the port.
– The use of good raw materials is essential for the production of high quality cocoa powder. Cadbury cocoa powder supply chain starts with good raw materials of cocoa beans, Vegetable oils, Potassium, drying alkali, Tannins or Polyphenols, Milk and vanillin. The key ingredient of cocoa beans is grown on small 3-4 hectare farms in Ghana (mainly in the country’s forested belt areas such as Ashanti Region or Brong-Ahafo Region). Indonesia and Malaysia are the other suppliers of Cadbury’s Cocoa beans. Dried beans are packed into sacks and are transported by trucks to the port of Ghana where they are packed in containers and await transportation to Singapore via ocean freight (FCL/LCL). (General cargo or Bulk cargo) Ventilation essential during transportation with the length and size of a 40” container with open tops. The haulage of the beans from the farmers to the ports has been outsourced to private transportation companies. These are transportation companies which have registered their company name with COCOBOD. The haulage companies close to a point where cocoa beans need to be evacuated to the takeover or shipping port is notified. The companies send their way bill to COCOBOD who intend arrange for it to be paid. By the time the cocoa reaches shelves internationally, it would have already gone through local traders by road.
– License Buying Companies (LBC) are internal marketing companies who have been given the license to buy cocoa beans from farmers. While the cocoa beans and Vegetable oils are exported to Singapore for cocoa powder processing from Africa, substances including other materials are mainly sourced from suppliers within the country.
– The dry beans are sent to the port and await transportation to Singapore via ocean freight (FCL/LCL). (General cargo or Bulk cargo) Ventilation essential during transportation.
– Singapore port to processing plants in Singapore (Trucks FTL/LTL).
Challenges of cocoa raw material:
• Sourced of cocoa dry bean from large number of small scale farmers which makes visibility challenging.
• Cases of child labour in this process. Trafficking of children from Mali to Ghana and Ivory Coast to work in Cocoa fields.
• Cocoa link – Initiative of the Govt. of Ghana to help farmers increase yield of the crops.
• Cocoa farmers earn 2dolars day – Cocoa life program to improve farmer’s life (nestle and mars also – start 2014)
• In this very first stage of Cadbury cocoa powder supply chain, it should be noticed by the context within which cocoa powder supply chain operates, especially the impact of sustainability.
It takes a year’s worth of cocoa beans harvested from a single tree to produce finished product. Harvesting of cocoa pods are labour intensive. Sourced from large number of small scale farmers which makes visibility challenging. Cases of child labour in this process. Trafficking of children from Mali to Ghana and Ivory Coast to work in Cocoa fields.
• Also, Socio-political factors in Ghana have also influenced cocoa productivity. Ethnic violence, wars and the resulting displacement of people from neighbouring national conflicts have all jeopardized cocoa production.
• The socio-environmental issues are the predominant poverty conditions and price vulnerability in these developing countries. Especially, there are severe impact of corruption and road infrastructure in Ghana to the Cadbury logistics. Drivers will be stopped an average of 36 times and pay about $865 in bribes when they transport goods from East Africa into Rwanda by road. From Senegal, they are stopped 125 times and it costs $200-$300 in bribes, along with costs for the fuel and the driver
With surging demand and issues mentioned above, cocoa sustainability in procurement is a huge challenge of this first mile stages of Cadbury cocoa powder supply chain. As a result, Cadbury Cocoa Partnership, started in 2008 in Ghana with the aim of seeing thriving cocoa communities was established for a sustainable cocoa supply chain
Opportunities Globalization, containerization and shipping development gives Cadbury opportunities to search for cheap but high quality raw materials sources such as Cocoa beans in Ghana and efficient transport of such materials to processing countries like Singapore or the UK.
That’s now easy for us to understand why Cadbury doesn’t use the hinterland as a brigde and then use the Trans-African Corridors. They choose the sea route to the southern Africa and go around to Singapore. As the use of good raw materials is essential for the production of high quality cocoa powder, product should have multiple raw materials from different geographies. Specific name of each of the geographies need to be identified.

TÌNH HUỐNG 2: Quy trình thu mua tóm tắt của công ty Harajuku và Pure-Electric.
(Procure To Pay Process Of Pure-Electric And Harajuku Melbourne)
03_BUY_IT_Pizza _Kebab_HARAJUKU&PURE-ELECTRIC

TÌNH HUỐNG 3: Quy trình thu mua tóm tắt của 1 công ty Pizza và 1 công ty Kebab.
03_BUY_IT_Pizza _Kebab

TẢI BÀI HỌC TẠI ĐÂY: 02_SCM_Buy_it